Sự tích hoa ban

truyền thuyết của người Thái kể rằng: Thuở ấy, có một chàng trai tên là Khum đem lòng yêu cô gái tên là Ban. Khum vừa giỏi làm nương, lại có tài săn bắn.
Ban thì khéo tay dệt vải lại có giọng hát làm say đắm nhiều chàng trai. Thế nhưng, cha nàng Ban vì ham giàu nên đã đem gả nàng cho con trai nhà tạo mường, vốn là một thanh niên lười nhác, lại có tật gù lưng.

Hoa-ban-tinh-yeu-chung-thuy

Hoa-ban-tinh-yeu-chung-thuy

Mặc cho cô gái hết lời van xin, người cha vẫn không từ bỏ ý định, và ông đã bàn bạc cùng với nhà tạo mường sửa soạn làm lễ cưới cho hai người. Trong bước đường cùng, nàng Ban đã chạy sang bản của Khum gặp chàng để cầu cứu. Nhưng chẳng may khi đến nhà Khum, thì được tin chàng đã theo cha đi mua trâu ở bản xa. Nàng bèn lấy chiếc khăn piêu của mình, buộc vào nơi cầu thang nhà người rồi bươn bả đi tìm chàng. Nàng đi hết núi này, rừng khác, gọi tên người yêu đến khản cả giọng, nhưng chàng ở xa nào có nghe thấy. Cuối cùng kiệt sức nàng ngã gục sau khi vượt qua một dãy núi cao.
Nơi nàng nằm xuống sau đó mọc lên một cây hoa mang búp trắng như búp tay người con gái. Và chẳng bao lâu, loài hoa ấy mọc lan ra khắp núi rừng Tây Bắc, và hằng năm cứ mỗi độ xuân về, hoa nở trắng như bông. Người ta đặt tên loài hoa đó là hoa ban.
Về phần Khum, sau khi về đến nhà, thấy chiếc khăn piêu của người yêu vắt nơi cầu thang, biết là có chuyện chẳng lành, bèn vội vã đi tìm nàng. Dò hỏi bà con bên bản người yêu, Khum biết được là nàng đã bỏ nhà ra đi, còn đi đâu thì không rõ. Thế là chàng trai lên đường đi tìm người yêu, đi mãi hết mường này, bản khác mà vẫn không tìm thấy bóng người yêu. Cuối cùng, chàng kiệt sức, ngã xuống. Sau khi chết, chàng hoá thành con chim sống lẻ loi trong rừng, và cứ đến mùa hoa ban nở, lại hót vang như tiếng gọi người yêu tha thiết từ năm nào

Truyền thuyết hoa Mộc Miên – Hoa Gạo

Ở một bản nọ có chàng trai nghèo khoẻ mạnh, yêu cô sơn nữ xinh đẹp. họ chuẩn bị cưới thì trời đổ mưa, cơn lũ lớn cuốn phăng ngôi nhà và lễ vật của chàng. Dân bản trồng cây nêu để chàng lên trời hỏi sự tình

Hoa-gao-loai-hoa-tuong-trung-cho-tinh-yeu-nong-chay

Hoa-gao-loai-hoa-tuong-trung-cho-tinh-yeu-nong-chay

Ở một bản nọ có chàng trai nghèo khoẻ mạnh, yêu cô sơn nữ xinh đẹp. họ chuẩn bị cưới thì trời đổ mưa, cơn lũ lớn cuốn phăng ngôi nhà và lễ vật của chàng. Dân bản trồng cây nêu để chàng lên trời hỏi sự tình. Ngày ra đi, chàng buộc vào tay cô gái băng vải đỏ, mỗi đầu có tua năm cánh thay cho lời thề thuỷ chung.
Gặp Ngọc Hoàng, chàng thưa: “Trần gian mưa nắng thất thường, cuộc sống con người rất cực khổ. Xin người xem xét lại”.
Ngọc Hoàng hỏi xem ai trông coi mưa nắng, một vị thần tâu: “Đó là thần Sấm, nhưng thần vốn ham vui nên có lúc xao nhãng”.
Thần Sấm thưa: “Một mình thần không làm xuể. Xin người giữ chàng trai này lại giúp thần làm mưa”. Ngọc Hoàng chuẩn tấu và truyền nâng bầu trời xa mặt đất để người hạ giới không lên được nữa. Chàng trai đành ở lại làm thần Mưa. Nhớ người yêu, nước mắt chàng trào ra.
Nói về cô gái, ngày nào cô cũng trèo lên cây nêu trông ngóng. Một ngày tháng Ba, Ngọc Hoàng xuống hạ giới. Biết chuyện, ngài cho cô gái một điều ước. Nàng thưa: “Xin người biến cây nên thành loài hoa có rễ bám sâu, thân thẳng, ngọn cao để thần nhìn thấy anh ấy, dải vải đỏ biến thành bông hoa để anh ấy nhận ra thần”. Thoả nguyện, cô gái gieo mình từ trên cao xuống.
Nhìn những bông hoa đỏ nâng niu linh hồn người yêu, nước mắt thần Mưa rơi lã chã. Người ta gọi đó là hoa gạo, loài hoa đỏ rực như tình yêu nồng thắm.

Truyền thuyết hoa Tulip (hoa Uất kim cương)

Mùa Xuân, tuyết thường tan vào tháng ba, tiết trời ấm áp một cách đặc biệt. Tất cả các bông hoa Tuyết cũng như hoa Tulip đều lần lượt nhú lên qua một lớp tuyết mỏng và hớn hở đón chào mùa xuân.

Hoa-tuy-lip-loai-hoa-quyen-ru-mua-xuan

Hoa-tuy-lip-loai-hoa-quyen-ru-mua-xuan

Ngày xửa ngày xưa, tại một thung lung trong núi Derapsan ở Uzbekistan có một người sống bằng nghề chăn cừu tên là Xabiđan. Ông sống rất cực khổ vì đàn cừu ông chăn dắt không phải là sở hữu của ông mà là của điền chủ độc ác Hamít. Xabiđan chỉ có đôi cánh tay lực lưỡng, một cây sáo tự khoét lấy và bảy cô con gái mắt đen huyền. Cô út có tên gọi hơi khác thường đó là Tulip. Xabiđan rất yêu quí các cô con gái của mình, xong cũng đã nhiều lần ông than thở:
- Ôi, giá ta có đứa con trai….
Mọi người biết đó đối với một người cha, con trai giống như đôi cánh. Còn con gái… con gái rồi cũng sẽ đi lấy chồng, sẽ bỏ cha và để lại cho trái tim ông nỗi đơn độc và buồn rầu. Một hôm, cô út và là cô gái đẹp nhất của người chăn cừu tên Tulip mười tuổi, mang bữa ăn trưa đến cho cha.
Để cho người cha đang mệt mỏi được khuây khoả, nàng bèn cất tiếng hát những bài hát nàng tự nghĩ ra và nhảy những điệu múa trông thật uyển chuyển và đẹp mắt. Đôi gò má của Tulip cứ hồng hào thêm lên, và cặp mắt đen láy thì sáng rực như hai vì sao, không một nàng công chúa nào có thể sánh được
Đúng giờ khắc ấy, số phận cay nghiệt đã phái tên điền chủ Hamít cưỡi một con ngựa hùng dũng đến trước đàn cừu. Vừa trông thấy Tulip đang nhảy múa, gã bèn dừng ngựa lại, nấp sau mấy bụi cây nhỏ theo dõi từng động tác nhảy tuyệt diệu của cô gái kiều diễm.Nhảy xong Tulip nói với cha:
- Cha ơi, con muốn được múa hát cả đời để cho mọi người được vui sướng.
- Ôi, con gái yêu quí của ta – người cha lắc đầu – Con là con của một kẻ chăn cừu thuê nghèo hèn, kiếm đâu ra những xiêm áo lụa là và những bộ y phục múa trong suốt chứ con?
Hamít rình mò chờ cho đến khi cô gái mang bát đĩa về nhà thì xông ra túm lấy cô đưa cô về dinh cơ nhà mình. Gã đẩy Tulip vào một căn phòng kín, ở đó đã có hàng trăm cô gái đẹp đang dệt thảm.
Suốt từ lúc mặt trời mọc cho đến tận hoàng hôn, Tulip dầm mình trong đám bụi với công việc dệt thảm tẻ ngắt và mệt mỏi. Từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác, quanh năm không nhìn thấy chút ánh nắng mặt trời.
Mùa hạ tối tăm và lạnh lẽo cũng trôi qua, rồi ngay cả mùa thu buồn bã và mùa đông lạnh lẽo cũng qua đi. Nỗi nhớ cha mẹ, nhớ quê hương nhớ những con suối chảy rì rào và tiếng chim ca. Nổi nhớ dày vò trong tâm tư của Tulip khôn nguôi. Khiến nàng đưa ra một quyết định liều lĩnh đó là bỏ trốn hoặc là chết….
Một bữa nọ, Tulip lại bên cửa sổ phóng tầm mắt qua lỗ khe nhỏ nhìn xuống phía dưới. Nàng phát hiện ra ở ngay dưới chân cửa sổ có vô số những mảnh chai, kính vỡ – đó chính là cái bẫy, nếu tù nhân nữ nào liều mạng phá cửa sổ bỏ trốn thì sẽ bị cứa đứt chân. Đúng lúc đó có một con chim bay đến đậu ngay bên bệ cửa sổ – đấy chính là con bồ câu trắng của người chị cả tên là Phairidôđa.
Làm thế nào để báo tin về nhà đây? Tulip không biết viết, thậm chí ở nhà cũng chẳng ai biết đọc. Cô vội vã cắt ngay một mớ tóc đen của mình, dứt một vài sợi quí vẫn thường dùng để dệt thảm rồi chuyển qua khe hở cho chú bồ cầu đó. Chú chim bồ câu tạm biệt nàng, bay đi.
Khi nhận được tin em út, Phairidôđa nghĩ nát óc tìm cách cứu em gái. Cuối cùng nàng đến gặp bà lão Turơxun. Bà là người sống đơn độc trong túp lều rách nát, ngày ngày kiếm cây cỏ làm thuốc chữa bệnh. Tương truyền Turơxun có cả thuốc phục sinh.Turơxun nghe hết chuyện Phairidôđa kể, bà liếc nhìn mặt trăng rồi lầm bầm khấn:
- Tự do không phải thứ quà tặng mà phải đánh đổi nó bằng máu.
- Bằng máu của Tulip ư? – Phairidôđa sợ hãi kêu lên.
- Phải, không những bằng máu của Tulip mà còn bằng máu của tất cả bảy chị em nhà ngươi và còn của tất cả những người bạn, những đứa bé nghèo nàn bị nhốt nữa. Hãy nghe ta nói đây:
Sau hai đêm nữa, đến đêm thứ ba, khi mặt trăng bắt đầu mọc lúc nửa đêm, Hamít sẽ tổ chức tại dinh cơ nhà lão một bữa đại tiệc. Như thường lệ, bọn lính gác bao giờ cũng là những kẻ bị chuốc rượu say trước nhất, mặc dù sáng hôm sau họ phải trả giá bằng một cái đầu. Ngay đêm ấy, trước lúc trăng lên, chị em các ngươi phải lọt được vào dinh cơ, còn chim bồ câu sẽ chỉ cho các ngươi cửa sổ phòng giam của các cô gái. Hãy đi chân đất đến gần cửa sổ mà mở ra. Bây giờ ta sẽ nói tại sao Hamít nhanh chóng phát hiện ra bầy nô lệ của gã chạy trốn và gã có thể nhanh chóng đuổi theo bắt lại. Gã căn cứ vào những vết máu, gã có thể biết một cách rõ ràng bầy nô lệ trốn đi đâu, nhưng nếu dấu vết đó lại quá nhiều thì gã sẽ lúng túng, trong khi đó có những người lại đang leo lên một sườn dốc đứng mà ngựa của gã không leo được. Vì thế ta nói lại một lần nữa nhất định là phải đi chân đất, bàn chân các ngươi sẽ phải bị thương vì mảnh kính.
Phairidôđa làm tất cả những việc mà Turơxun chỉ vẽ. Những tên lính canh bị chuốc rượu say mèm không còn nhận ra các cô gái đang lén lút bỏ trốn. Sau khi bị mảnh kính cứa nát bàn chân, các cô mở cửa sổ ra và khẽ gọi Tulip. Tulip nhảy ào qua cửa sổ, mặc dù hai bàn chân bị thương đau nhói nàng vẫn không dám kêu ca. Các chị, các bạn gái và những người đồng cảnh ngộ với nàng cũng phải chịu những đau đớn như thế.
Các cô gái chạy toán loạn theo sườn núi. Dù hai bàn chân bị thương, phải chạy một cách khó khăn, các cô vẫn không dám rên rỉ, vì nếu để lộ, các cô sẽ mất tự do, một món quà mà các cô phải đổi bằng một giá quá đắt. Các cô cứ men theo sườn núi đá còn phủ tuyết mà chạy cho đến khi nghe rõ những tiếng vó ngựa dồn dập.
- Hamít đang đuổi theo chúng ta đấy! – Tulip hét lên, giục mọi người – hãy chạy nhanh lên!
Các cô gái chạy trốn dường như có gió giúp sức cho họ nhưng Tulip đã bắt đầu đuối sức, nàng bị rớt lại phía sau. Ngựa của Hamít đã ập đến sau lưng nàng. Chẳng lẽ nàng lại phải trở thành tù nhân, lại không được trông thấy mặt trời cùng núi rừng nữa hay sao? “Không, ta thà chết trong tự do còn hơn là sống một cuộc đời nô lệ!” Và, thế là Tulip gieo mình xuống dưới vó ngựa, cả bốn vó ngựa xéo lên người nàng, nhưng chính con vật đã bị khuất và gẫy một chân. Hamít bị thương lết về nhà lúc trời còn chưa sáng, hối hả giục lũ gia nhân đuổi bắt những kẻ trốn chạy.
Còn Tulip đáng thương thì toàn thân đẫm máu, nàng gượng đứng lên nhưng không còn sức lực. Tulip lảo đảo đi vài bước rồi ngã sấp người xuống tuyết. Rồi nàng ngủ một giấc ngủ không bao giờ tỉnh.
Sáng hôm sau, Hamít cùng lũ lâu la mò lên đỉnh núi cao tuyết phủ. Trước mắt chúng hiện ra một cảnh tượng kì lạ từ chỗ của Tulip nằm. Trên bãi tuyết trắng lạnh đó có những bông hoa đỏ bừng nở. Và bông hoa mang tên nàng Tulip ra đời từ đó, góp thêm một vẻ đẹp quyến rũ cho đời.