Truyện Cổ Tích Trâu, Cọp và Con Người

Ngày xưa, người ta khi dắt trâu ra ruộng thường lấy dây buộc vào sừng trâu mà kéo đi. Một hôm, có con chim đậu ở bụi cây, thấy người nông dân dẫn trâu đi như vậy, bèn hỏi: “Sao ông không thọc lỗ ở mũi trâu mà dắt đi?”.

hay-suy-nghi-truoc-khi-dat-ra-cau-hoi-nhe-cac-be

hay-suy-nghi-truoc-khi-dat-ra-cau-hoi-nhe-cac-be

Người kia bèn buộc con trâu vào gốc cây, đâm thủng mũi trâu, xỏ dây dắt đi. Sau đó có nhiều người bắt chước theo. Một hôm, sau buổi cày, trong lúc người chủ nghỉ ngơi đi uống nước, con trâu đang ăn cỏ, thì có một con cọp đến hỏi trâu rằng: “Này trâu, sao mày to xác như vậy mà lại để cho một thằng người bé nhỏ xỏ mũi kéo, đánh đập, mà mày cứ chịu lép vế”. Trâu trả lời cọp: “Tuy người bé nhỏ, nhưng nó có trí khôn to lớn”.

Vừa lúc ấy, người đi cày trở lại. Cọp bèn chặn hỏi: “Nghe trâu nói là người tuy bé nhỏ nhưng có trí khôn. Vậy trí khôn đâu, cho ta xem với”. Người đi cày đáp: “Trí khôn tôi để ở nhà”. Cọp bảo: “Hãy về nhà lấy trí khôn cho ta xem”. Người nông dân trả lời: “Được chứ Nhưng e rằng trong lúc tôi vắng mặt, thì ông cọp ăn mất trâu của tôi . Vậy, cọp có bằng lòng cho tôi trói lại, rồi tôi về nhà lấy trí khôn cho mà xem?”. Cọp bằng lòng.

Người đi cày bèn lấy dây thừng, cột cọp thật kỹ vào gốc cây. Rồi ông lấy một chiếc gậy to đánh vào đầu cọp nói rằng: “Trí khôn của ta đây”. Trâu thấy vậy, cười ngả nghiêng, đập hàm vào đất, gãy cả hàm răng trên. Do đó, loài trâu sau này không còn hàm răng trên nữa, vì đã cười cọp. Còn loài cọp thì bị rằn rện, lông có những vết sọc đen trên mình là dấu tích bị loài người đánh.

Sự tích hạt lúa

Ngày xưa, có một người đàn bà nghèo. Chồng chết sớm, bà ở vậy nuôi đứa con trai duy nhất. Điều đáng buồn là cậu con trai càng được cưng chiều, càng đâm ra hư hỏng, bất hiếu và không nghe lời mẹ.

Bởi vì nhà nghèo, không đủ miếng ăn, người đàn bà cực nhọc trồng bắp, nuôi gà. Có trái bắp nào đủ lớn, bà luộc rồi đưa cả cho con ăn, phần mình ăn chỗ còn thừa lại. Khi nào làm con gà nào, bà cũng để cho con ăn no nê, xong rồi bà kín đáo bòn mót đống xương vụn. Nhưng cậu con trai không thấy điều đó. Cậu không thương mẹ lại còn hỗn xược, ham chơi.

Một ngày kia, người đàn bà lâm bệnh nặng. Biết mình sắp chết, bà lo lắng, kêu đứa con trai lại, khuyên nhủ rằng: “Ngày mẹ chết, con sẽ thấy ở chỗ mẹ nằm có một loại hạt nhỏ. Con hãy bỏ vào trong chậu đất, đổ nước vào, rồi quảy về cung sẽ đổi được rất nhiều vàng bạc”.

chung-ta-hay-nang-liu-va-dung-de-mat-di-nhung-gi-da-co

chung-ta-hay-nang-liu-va-dung-de-mat-di-nhung-gi-da-co

Ngày mẹ mất, cậu con trai tìm được trên gối nằm một loại hạt nhỏ bằng đầu ngón tay. Lòng tham lam, cậu liền làm theo lời mẹ dặn, bỏ hạt vào một chiếc chậu nhỏ, rưới nước vào rồi bỏ lên lưng quảy về phía hoàng cung.

Đường về hoàng cung rất xa, phải mất cả 6-7 tháng đi đường. Cậu con trai mệt mỏi, tiền hết, lương thực cạn dần. Cậu bắt đầu xin từng bữa ăn và khó khăn lắm mới xin được chỗ trú ngủ qua đêm. Cậu dần dần nhận ra được công lao của mẹ đã cực nhọc nuôi nấng mình trong bấy lâu. Cậu hối hận vì đã đối xử tệ bạc với mẹ.

Về tới hoàng cung, lúc cậu bỏ cái chậu trên lưng xuống, ngạc nhiên vì thấy tự lúc nào, trên lưng cậu có một nhánh cỏ trĩu những hạt nhỏ, màu vành xinh xắn, mùi thơm thoang thoảng, nấu ra ăn thật bùi.

Cậu con trai nhớ thương mẹ, bèn thôi không đem hạt vào cung nữa, trái lại, cậu mang giống hạt về trồng rồi phân phát cho mọi người cùng trồng nữa… Sự tích hạt lúa có từ đó.

Sự tích con Dế

Ngày xưa có một người đàn ông 2 vợ. Bà vợ cả mất sớm để lại đứa con trai tên là Văn Linh. Người vợ kế cũng sinh được một trai tên là Văn Lang. Lớn hơn em những 5 tuổi, song 2 anh em thương nhau như cùng một mẹ.

Tinh-nhan-van-tu-cau-chuyen-su-tich-con-de-da-noi-ve-long-tham-cua-con-nguoi

Tinh-nhan-van-tu-cau-chuyen-su-tich-con-de-da-noi-ve-long-tham-cua-con-nguoi

Chẳng bao lâu thì người cha mất đi. Để lại một gia tài đồ sộ. Lòng tham không đáy nên bà dì ghẻ tìm cách hại đứa con chồng để chiếm trọn gia tài. Và bà ta âm thầm chờ đợi một cơ hội.

Một hôm bà sai 2 anh em mang tiền đi mua gỗ. Trước khi lên đường bà dặn Văn Lang là phải tìm cơ hội giết anh nhưng vốn tính nhân hậu nên Văn Lang kể cho anh nghe và giục anh nên trốn đi thật xa.

Sau khi anh đi rồi, Văn Lang giết một con chó lấy máu bôi khắp người rồi trở về nói với mọi người rằng Văn Linh đã bị hổ vồ mất. Ai cũng thương xót chỉ có bà dì ghẻ là hả hê vì âm mưu của mình đã thành sự thật.

Về phần Văn Linh, anh đau buồn đi đến bên mộ mẹ nằm khóc rồi nằm ngủ thiếp đi. Hồn người mẹ thương con hóa thành chim Phượng Hoàng dùng cánh che cho con an giấc. Đến sáng hôm sau, Phượng Hoàng hóa ra nhà cửa đồ sộ để cho con trai ở, từ đó cứ đêm đến là Phượng Hoàng lại xuất hiện mang sách vở cho con tiếp tục việc học và bảo vệ cho con mình, đến sáng thì bay đi.

Lúc bấy giờ ở dưới chân núi có một cô gái xinh đẹp tên là Ngọc Châu, sống với người hầu gái bằng nghề dệt vải nuôi thân. Nàng lấy làm lạ vì thời gian gần đây trên ngọn núi hoang vắng bỗng có tiếng ê a của học trò.

Ngọc Châu lân la tìm hiểu mới biết đó là tiếng đọc sách của Văn Linh. 2 người quen nhau và nên nghĩa vợ chồng. Chim Phượng Hoàng vui lắm mang đến cho 2 vợ chồng thật nhiều vàng bạc rồi bay đi.

Sau 5 năm chăm chỉ rèn sách đèn. Tới khoa thi Văn Linh chiếm được bảng vàng. Cờ lọng vàng rực rỡ đưa chàng về bái tổ vinh quy. Dân làng ai cũng đến chúc mừng.

2 anh em gặp lại nhau mừng vui rơi nước mắt còn bà dì ghẻ độc ác nghe tin đột ngột không kịp trốn. Sợ quá chui xuống gầm giường. Rồi vì quá sợ, bà chết đi hóa thành con vật nhỏ bé, đen đủi. Về sau người ta gọi đó là con Dế.